Đảng đã thất bại – Một đảng viên đoạn tuyệt với Bắc Kinh

Nguồn: The Party that failed – An Insider Breaks With Beijing, Cai Xia*, Foreign Affairs, January/ February 2021

Ngọc Lan dịch

*Tác giả Cai Xia (Thái Hà) từng là một giáo sư tại Trường Đảng Trung Ương của đảng CSTQ từ 1998 đến 2012. Bài viết được dịch từ tiếng Hán sang Anh ngữ bởi Stacy Mosher.

***

Từng là một người theo chủ nghĩa Marx nhiệt thành, tôi [Cai Xia (Thái Hà)] đã chia tay với chủ nghĩa Marx và ngày càng hướng tới tư tưởng phương Tây để tìm câu trả lời cho các vấn đề của Trung Quốc.

Khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, tôi tràn đầy hy vọng vào Trung Quốc. Là một giáo sư tại ngôi trường danh tiếng đào tạo các nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), tôi đủ hiểu về lịch sử để kết luận rằng đã tới lúc Trung Quốc mở cửa hệ thống chính trị. Sau một thập kỷ trì trệ, ĐCSTQ cần cải cách hơn bao giờ hết, và ông Tập Cận Bình dường như sẽ là người dẫn dắt khi có ám chỉ xu hướng thay đổi của mình.

Đến lúc đó, tôi đang ở giữa một quá trình vật lộn với hệ tư tưởng chính thống của Trung Quốc hàng thập kỷ, ngay cả khi tôi chịu trách nhiệm truyền bá cho các quan chức Trung Quốc. Từng là một người theo chủ nghĩa Marx nhiệt thành, tôi đã chia tay với chủ nghĩa Marx và ngày càng hướng tới tư tưởng phương Tây để tìm câu trả lời cho các vấn đề của Trung Quốc.

Từng là một người tự hào bảo vệ chính sách chính thức, tôi đã bắt đầu đưa ra trường hợp tự do hóa. Từng là một thành viên trung thành của ĐCSTQ, tôi đã ngấm ngầm nghi ngờ về sự chân thành của niềm tin và sự quan tâm của đảng đối với người dân Trung Quốc.

Vì vậy, tôi không nên ngạc nhiên khi hóa ra ông Tập không phải là nhà cải cách. Trong suốt nhiệm kỳ của ông, chế độ này đã suy thoái sâu hơn thành một chế độ đầu sỏ chính trị cố gắng nắm giữ quyền lực thông qua sự tàn bạo và tàn nhẫn. Chế độ đó thậm chí còn trở nên đàn áp và độc tài hơn. Một sự sùng bái cá tính hiện đang bao quanh ông Tập, người đã thắt chặt sự kiềm chế của đảng đối với hệ tư tưởng và loại bỏ không gian ít ỏi dành cho phát ngôn chính trị và xã hội dân sự.

Những người không sống ở Trung Quốc đại lục trong tám năm qua khó có thể hiểu được chế độ này đã trở nên tàn bạo như thế nào, đã gây ra bao nhiêu bi kịch lặng lẽ ra sao. Sau khi lên tiếng phản đối hệ thống, tôi biết rằng tôi không còn an toàn khi sống ở Trung Quốc.

Nền giáo dục của một đảng viên

Tôi sinh ra trong một gia đình quân nhân Cộng sản. Năm 1928, khi cuộc Nội chiến Trung Quốc bắt đầu, ông ngoại tôi tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Khi những người Cộng sản và những người theo chủ nghĩa Quốc gia đình chỉ chiến tranh trong Thế chiến thứ hai, cha mẹ tôi và gia đình mẹ tôi đã chiến đấu chống lại quân xâm lược Nhật Bản trong đội quân do ĐCSTQ lãnh đạo.

Sau chiến thắng của Cộng sản, năm 1949, cuộc sống của một gia đình cách mạng như chúng tôi rất tốt. Cha tôi chỉ huy một đơn vị Quân Giải phóng Nhân dân gần Nam Kinh, còn mẹ tôi điều hành một văn phòng trong chính quyền thành phố. Cha mẹ tôi cấm hai chị tôi và tôi không được lợi dụng những đặc quyền của cơ quan họ, kẻo chúng tôi trở thành “những tiểu tư sản hư hỏng”.

Chúng tôi không được đi trên chiếc xe của cha mình và các nhân viên bảo vệ của ông ấy không bao giờ làm việc vặt trong gia đình. Tuy nhiên, tôi vẫn được hưởng lợi từ địa vị của cha mẹ mình và không bao giờ phải chịu như nhiều người Trung Quốc đã làm vào những năm dưới quyền Mao. Tôi không biết gì về hàng chục triệu người chết đói trong thời kỳ Đại nhảy vọt.

Tất cả những gì tôi có thể thấy là tương lai tươi sáng của chủ nghĩa xã hội. Giá sách của gia đình tôi chứa đầy những đầu sách của chủ nghĩa Mác như Tác phẩm được chọn lọc của Stalin và Đọc sách bắt buộc cho cán bộ. Khi còn là một thiếu niên, tôi đã sử dụng những cuốn sách này để đọc ngoại khóa.

Bất cứ khi nào tôi mở chúng ra, tôi đều tràn ngập sự tôn kính. Mặc dù tôi không thể hiểu được sự phức tạp trong lập luận của họ, nhưng nhiệm vụ của tôi rất rõ ràng: Tôi phải yêu quê hương đất nước, kế thừa di sản cách mạng của cha mẹ tôi và xây dựng một xã hội cộng sản không bị bóc lột. Tôi là một tín đồ thực sự.

Tôi hiểu biết sâu sắc hơn về tư tưởng cộng sản sau khi gia nhập Quân đội Giải phóng Nhân dân năm 1969, ở tuổi 17. Với cuộc Cách mạng Văn hóa đang diễn ra sôi nổi, Mao yêu cầu mọi người đọc sáu tác phẩm của Karl Marx và Friedrich Engels, bao gồm cả Tuyên ngôn Cộng sản.

Một đoạn văn không tưởng trong cuốn sách đó đã để lại ấn tượng lâu dài trong tôi: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với các giai cấp và đối kháng giai cấp, chúng ta sẽ có một hiệp hội, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả”. Mặc dù tôi không thực sự hiểu khái niệm về tự do vào thời điểm đó, nhưng những từ đó cứ lởn vởn trong đầu tôi.

Quân Giải phóng Nhân dân đã phân công tôi vào một trường quân y. Công việc của tôi là quản lý thư viện, nơi tình cờ có các bản dịch tiếng Trung của các tác phẩm “phản động”, chủ yếu là văn học phương Tây và triết học chính trị.

Được bọc bìa màu xám để phân biệt, những cuốn sách này chỉ được giới hạn cho những người trong chính quyền với mục đích làm quen với các đối thủ về ý thức hệ của Trung Quốc, nhưng tôi cũng đã bí mật đọc chúng. Tôi ấn tượng nhất với cuốn Sự trỗi dậy và sụp đổ của Đế chế thứ ba, của nhà báo người Mỹ William Shirer, và một bộ sưu tập tiểu thuyết của Liên Xô. Tôi nhận ra rằng có một thế giới ý tưởng bên ngoài các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác. Nhưng tôi vẫn tin rằng chủ nghĩa Mác là chân lý duy nhất.

Tôi rời quân ngũ năm 1978 và nhận công việc trong tổ chức công đoàn của một nhà máy sản xuất phân bón quốc doanh ở ngoại ô thành phố Tô Châu. Lúc đó, Mao đã chết và Cách mạng Văn hóa kết thúc. Người kế nhiệm của ông, Đặng Tiểu Bình, đang mở ra thời kỳ cải cách và mở cửa, và là một phần của nỗ lực này, ông đang tuyển dụng một thế hệ cán bộ có tư tưởng cải cách mới có thể điều hành đảng trong tương lai.

Mỗi tổ chức đảng địa phương phải chọn một vài thành viên để phục vụ trong nhóm này, và tổ chức đảng Tô Châu đã chọn tôi. Tôi được gửi đến học một chương trình hai năm tại Trường Đảng thành phố Tô Châu, nơi tôi và các bạn học cùng nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác và lịch sử của ĐCSTQ. Chúng tôi cũng nhận được một số khóa đào tạo về các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, một môn học mà chúng tôi đã bỏ lỡ do sự gián đoạn giáo dục trong Cách mạng Văn hóa.

Tôi đã xem qua Das Kapital hai lần và học những kiến ​​thức cơ bản của lý thuyết Mác. Điều hấp dẫn tôi nhất là những ý tưởng của Marx về lao động và giá trị – cụ thể là các nhà tư bản tích lũy của cải bằng cách tận dụng lợi thế của người lao động. Tôi cũng có ấn tượng với cách tiếp cận triết học của Marx, chủ nghĩa duy vật biện chứng, cho phép ông xem các hệ thống chính trị, luật pháp, văn hóa và đạo đức của chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên nền tảng của sự bóc lột kinh tế.

Khi tôi tốt nghiệp, năm 1986, tôi được mời ở lại làm giảng viên của trường, lúc đó đang thiếu biên chế. Tôi đã chấp nhận, điều này khiến một số lãnh đạo thành phố thất vọng, những người nghĩ rằng tôi có một tương lai đầy hứa hẹn trong một bộ máy của đảng. Thay vào đó, công việc mới của tôi đã khởi đầu sự nghiệp học giả trong hệ thống truyền bá tư tưởng của ĐCSTQ.

Học sinh trở thành thầy

Đứng đầu hệ thống đó là Trường Đảng Trung ương ở Bắc Kinh. Kể từ năm 1933, trường đã đào tạo ra nhiều thế hệ cán bộ cấp cao nhất của ĐCSTQ, những người điều hành bộ máy hành chính của Trung Quốc từ cấp thành phố trực thuộc trung ương trở lên. Trường có quan hệ mật thiết với các đảng viên ưu tú và luôn có hiệu trưởng là một ủy viên Bộ Chính trị. (Hiệu tưởng của trường từ năm 2007 đến năm 2012 không ai khác chính là Tập).

Vào tháng 6 năm 1989, chính phủ đàn áp những người biểu tình ủng hộ dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn, giết chết hàng trăm người. Riêng tôi, tôi cảm thấy kinh hoàng khi Quân đội Giải phóng Nhân dân đã bắn vào sinh viên đại học, điều này trái ngược với những gì tôi đã nhận được từ thời thơ ấu rằng quân đội bảo vệ nhân dân; chỉ có bọn “ác quỷ” Nhật Bản và bọn phản động Quốc dân đảng mới giết người.

Báo động về các cuộc biểu tình, cộng với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ quyết định phải chống lại sự lỏng lẻo về ý thức hệ. Họ ra lệnh cho các trường đảng địa phương cử một số giáo viên của họ đến Trường Đảng Trung ương để tìm hiểu về tư duy của đảng.

Trường tôi ở Tô Châu đã chọn tôi. Thời gian ngắn ở Trường Đảng Trung ương khiến tôi muốn học ở đó lâu hơn nữa. Sau một năm chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh, tôi được nhận vào chương trình thạc sĩ tại khoa lý thuyết của trường. Tôi tận tâm với đường lối của ĐCSTQ đến nỗi sau lưng tôi, các bạn cùng lớp gọi tôi là “Bà già Marx”. Năm 1998, tôi nhận bằng Tiến sĩ. và tham gia vào khoa của trường.

Một số sinh viên của tôi là nghiên cứu sinh chính quy, những người đã được dạy một chương trình thông thường về lý thuyết chính trị Mác xít và lịch sử ĐCSTQ. Nhưng những người khác là các quan chức cấp trung và cấp cao của đảng, bao gồm các nhà quản lý cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương và các bộ trưởng cấp nội các. Một số sinh viên của tôi là thành viên của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ, cơ quan của vài trăm đại biểu đứng đầu hệ thống phân cấp của đảng và phê chuẩn các quyết định lớn.

Việc giảng dạy ở Trường Đảng Trung ương không hề dễ dàng. Máy quay video trong các lớp học đã ghi lại bài giảng của chúng tôi, sau đó được giám sát viên của chúng tôi xem lại. Chúng tôi phải làm cho chủ đề trở nên sống động đối với những sinh viên có kinh nghiệm và trình độ cao trong lớp, mà không diễn giải giáo lý quá linh hoạt hoặc thu hút sự chú ý vào những điểm yếu của nó. Thông thường, chúng tôi phải đưa ra những câu trả lời thông minh cho những câu hỏi hóc búa do các quan chức trong lớp của chúng tôi hỏi.

Hầu hết các câu hỏi của họ đều xoay quanh những mâu thuẫn khó hiểu trong hệ tư tưởng chính thống, vốn được tạo ra để biện minh cho các chính sách trong thế giới thực do ĐCSTQ thực hiện. Các sửa đổi bổ sung vào năm 2004 trong hiến pháp của Trung Quốc nói rằng chính phủ bảo vệ nhân quyền và tài sản tư nhân.

Nhưng còn quan điểm của Marx rằng hệ thống cộng sản nên xóa bỏ sở hữu tư nhân thì sao? Đăng Tiểu Bình muốn “để một bộ phận dân cư giàu lên trước” để tạo động lực cho mọi người và kích thích năng suất. Làm thế nào mà điều đó phải phù hợp với lời hứa của Marx rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ cung cấp cho mỗi người theo nhu cầu của ông?

Tôi vẫn trung thành với ĐCSTQ, nhưng tôi liên tục đặt câu hỏi về niềm tin của chính mình. Vào những năm 1980, giới học thuật Trung Quốc đã tham gia vào một cuộc thảo luận sôi nổi về “chủ nghĩa nhân văn mácxít”, một dòng tư duy mác xít nhấn mạnh đến sự phát triển toàn diện của nhân cách con người.

Một số học giả tiếp tục cuộc thảo luận đó vào những năm 1990, ngay cả khi phạm vi diễn ngôn có thể chấp nhận được thu hẹp. Tôi đã nghiên cứu Bản thảo kinh tế và triết học của Marx năm 1844, trong đó nói rằng mục đích của chủ nghĩa xã hội là giải phóng cá nhân. Tôi đồng quan điểm với các triết gia mácxít nhấn mạnh đến tự do – trên hết là Antonio Gramsci và Herbert Marcuse.

Ngay trong luận văn thạc sĩ của tôi, tôi đã chỉ trích ý tưởng rằng mọi người nên luôn hy sinh lợi ích cá nhân của mình để phục vụ đảng. Trong luận văn Tiến sĩ, tôi đã thách thức khẩu hiệu cổ đại của Trung Quốc “nước giàu, quân mạnh” bằng cách cho rằng Trung Quốc sẽ mạnh chỉ khi đảng cho phép công dân của mình thịnh vượng.

Bây giờ, tôi đã tiến xa hơn lập luận này một bước. Trong các bài báo và các cuộc nói chuyện, tôi gợi ý rằng các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn quá thống trị trong nền kinh tế Trung Quốc và cần phải cải cách hơn nữa để cho phép các công ty tư nhân cạnh tranh. Tôi nhấn mạnh, tham nhũng không nên được coi là sự suy đồi đạo đức của cá nhân cán bộ mà là một vấn đề mang tính hệ thống do sự kìm kẹp của chính phủ đối với nền kinh tế.

Lý thuyết và thực hành

Suy nghĩ của tôi tình cờ phù hợp với suy nghĩ của Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình. Quyết tâm phát triển nền kinh tế Trung Quốc, Giang đã tìm cách kích thích doanh nghiệp tư nhân và đưa Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Nhưng những chính sách này mâu thuẫn với lý thuyết lâu nay của ĐCSTQ về nền kinh tế kế hoạch và khả năng tự cung tự cấp của quốc gia. Vì hệ tư tưởng của cả Marx, Mao và Đặng đều không thể giải quyết những mâu thuẫn này, Giang cảm thấy buộc phải nghĩ ra một cái gì đó mới. Ông ấy gọi nó là “Tam Đại”.

Lần đầu tiên tôi nghe về lý thuyết mới này khi những người khác đã nghe. Vào tối ngày 25 tháng 2 năm 2000, tôi xem Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) phát một phóng sự về Tam đại. Giang nói, đảng này phải đại diện cho ba khía cạnh của Trung Quốc: “yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến”, tiến bộ văn hóa và lợi ích của đa số. Là một giáo sư tại Trường Đảng Trung ương, tôi ngay lập tức hiểu rằng lý thuyết này cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong hệ tư tưởng của ĐCSTQ.

Đặc biệt, điều đầu tiên trong số Ba đại diện ngụ ý rằng Giang đang từ bỏ niềm tin cốt lõi của chủ nghĩa Mác rằng các nhà tư bản là một nhóm xã hội bóc lột. Thay vào đó, Giang đã mở đảng cho hàng ngũ của họ – một quyết định mà tôi hoan nghênh.

Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan phụ trách công tác tư tưởng của ĐCSTQ, chịu trách nhiệm quảng bá lý thuyết mới của Giang, nhưng họ gặp phải một vấn đề: Tam Đại đã bị tấn công từ phe cực tả, vốn cho rằng Giang đã đi quá xa trong việc ve vãn các doanh nhân.

Với hy vọng che đậy cuộc tranh chấp này, Ban Tuyên giáo đã chọn cách hạ thấp lý thuyết. Nhân dân Nhật báo đã xuất bản một bài báo dài cả trang chứng minh tính đúng đắn của Tam Đại với các tham chiếu chéo đến các văn bản của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao và Đặng.

Tôi thấy điều này không thuyết phục. Mục đích của Tam Đại là gì nếu nó chỉ đơn thuần là khôi phục lại hệ tư tưởng hiện có? Tôi ghê tởm những phương pháp hời hợt của bộ máy công quyền của đảng. Tôi quyết tâm tiết lộ ý nghĩa thực sự của Tam Đại, một lý thuyết trên thực tế đã đánh dấu một sự ra đi táo bạo đối với Trung Quốc. Hóa ra điều này sẽ khiến tôi xung đột với bộ máy quan liêu cố thủ của ĐCSTQ.

(Xem tiếp trang 2: Giới tinh hoa chưa được biết đến)

Related posts

Leave a Comment